Tin tưởng hoàn thành vượt mức 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao trong năm nay!


Chiều ngày 2/10, tại cuộc họp báo sau phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2019, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Người phát ngôn của Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ thống nhất nhận định, kinh tế - xã hội 9 tháng qua đã đạt được những kết quả quan trọng, là cơ sở để tin tưởng sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao trong năm nay.

Tuy nhiên, các Bộ, ngành, địa phương không được chủ quan trong trong 3 tháng cuối năm để bảo đảm hoàn thành toàn diện kế hoạch năm 2019, tạo tiền đề thuận lợi cho năm 2020.

Những kết quả, thành tựu nổi bật

Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế của nhiều nền kinh tế giảm mạnh (tăng trưởng của Mỹ 2%, EU 1%, Nhật Bản 0,6%, Ấn Độ 5%, Trung Quốc dưới 6%, Singapore 0%...), tuy nhiên với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, 9 tháng qua Việt Nam đã đạt được kết quả nổi bật. Trong đó, tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 6,98%, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong 9 năm trở lại đây.

tin tuong hoan thanh vuot muc 1212 chi tieu quoc hoi giao trong nam nay

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng: Kinh tế - xã hội 9 tháng qua đã đạt được những kết quả quan trọng

“Đây là dấu hiệu rất tích cực, trong đó nông nghiệp tăng 2,02%, công nghiệp tăng 9,36%, dịch vụ tăng 6,85%” - ông Mai Tiến Dũng nói và cho biết, kết quả tiếp theo là lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng 2,5%, mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, nhất là khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 45,3%, tăng 16,9%; vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% (vốn FDI thực hiện các năm từ 2015-2019 lần lượt là: 9,8 tỷ USD; 11 tỷ USD; 12,5 tỷ USD; 13,3 tỷ USD; 9 tháng của năm 2019 đạt 14,2 tỷ USD)…

Bên cạnh đó, công tác thu ngân sách Nhà nước tăng cao (10,1%), có 8/12 khoản thu và nhóm các khoản thu nội địa đạt khá, thu nội địa đạt 70,3%. Đặc biệt, trong bối cảnh thương mại toàn cầu tăng trưởng thấp như hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 190 tỷ USD. Xuất siêu lớn, ước đạt 5,9 tỷ USD…

Cũng theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, 9 tháng qua tiếp tục ghi nhận bước tăng trưởng khá của ngành công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là động lực chính của tăng trưởng toàn nền kinh tế. IIP 9 tháng ngành công nghiệp tăng 9,56% (quý I tăng 9%; quý II tăng 9,24%; quý III tăng 10,29%), là mức tăng cao nhất trong 4 năm trở lại đây. Cùng đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,6%. Khách du lịch quốc tế đạt 12,9 triệu lượt người, tăng 10,8%. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt kỷ lục với gần 102,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,9% về số doanh nghiệp và tăng 34% về số vốn đăng ký.

Trong khi đó, lĩnh vực nông nghiệp dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng đã tập trung cơ cấu lại nội ngành theo hướng hiệu quả hơn, ngành thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá, là một điểm sáng của ngành.

Các lĩnh vực về văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Đời sống nhân dân được cải thiện, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững đạt kết quả tích cực, số hộ thiếu đói giảm 33%, trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội khoảng 5,1 nghìn tỷ đồng.

“Kết quả trên càng khẳng định sự phù hợp của nhận định, đánh giá tình hình mà Ban Cán sự Đảng Chính phủ trình Bộ Chính trị để báo cáo Trung ương tại kỳ họp sắp tới, đó là dự kiến năm 2019 sẽ hoàn thành toàn diện, vượt mức các mục tiêu kế hoạch đề ra, là năm thứ 2 liên tiếp đạt và vượt toàn bộ 12 chỉ tiêu chủ yếu” – ông Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo ông Dũng, bên cạnh những kết quả đạt được, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận còn nhiều tồn tại hạn chế và khó khăn thách thức cần phải vượt qua, điển hình, như: nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn; một số dự án công nghiệp, giao thông trọng điểm tiếp tục chậm tiến độ; sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát sinh nhiều vấn đề về văn hóa, xã hội, an ninh trật tự phức tạp…

Từ những phân tích, đánh giá trên, tại phiên họp, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh tinh thần quyết tâm, kiên định thực hiện các mục tiêu đề ra; tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh là "không được ngủ quên trên vòng nguyệt quế".

Cho phép xuất khẩu khoáng sản chỉ là giải pháp tạm thời

Tại cuộc họp báo, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc gần đây, Bộ Công Thương và một số địa phương đề xuất với Chính phủ cho phép một số doanh nghiệp được xuất khẩu khoáng sản, cụ thể là tinh quặng sắt tại Lào Cai và tinh quặng đồng tại Thái Nguyên, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải khẳng định, tại Nghị quyết số 02/NQ-BCT ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản, công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 và Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/11/2011 của Thủ tướng phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 đã nêu rõ, khai thác khoáng sản chủ yếu để đáp ứng nhu cầu trong nước và định kỳ xem xét, xác định mức độ quan trọng của từng loại khoáng sản, từ đó điều chỉnh việc khai thác, chế biến, xuất khẩu khoáng sản và các sản phẩm khoáng sản chỉ được xuất khẩu khi đã qua chế biến đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể đã được các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ban hành.

tin tuong hoan thanh vuot muc 1212 chi tieu quoc hoi giao trong nam nay

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Việc xem xét cho phép xuất khẩu khoảng sản theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chỉ là giải pháp tạm thời

Quán triệt chủ trương trên, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 41/TT-BCT ngày 21/12/2012 quy định về xuất khẩu khoáng sản, theo đó, giảm từ 22 loại khoáng sản được xuất khẩu theo quy định trước đây xuống còn 10 loại.

“Như vậy, không phải chúng ta cấm xuất khẩu tất cả các loại khoáng sản mà chỉ hạn chế việc xuất khẩu” – Thứ trưởng Hải nói và cho biết thêm, những năm gần đây, giá kim loại và khoáng sản trên thế giới và khu vực giảm sâu, các doanh nghiệp trong ngành khai khoáng gặp rất nhiều khó khăn do chi phí khai thác, chế biến tăng cao, nhiều dự án không được đầu tư theo quy hoạch hoặc đã đầu tư nhưng sản xuất cầm chừng với sản lượng rất thấp, tồn kho khoáng sản với khối lượng lớn, đặc biệt là quặng sắt và quặng titan nên nhiều mỏ phải sản xuất cầm chừng hoặc phải đóng cửa.

Trong khi đó, theo các quy định hiện hành, các doanh nghiệp dừng khai thác khoáng sản những vẫn phải thực hiện việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản trên cơ sở giấy phép đã được cấp.

Trước tình hình đó, để giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp và đẩy mạnh tăng trưởng sản xuất, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 9/6/2017 nhằm tháo gỡ khó khăn trong việc tiêu thụ các loại khoáng sản tồn đọng.

Ngày 14/6/2017, Thủ tướng đã ban hành Thông báo số 264/TB-CP cho phép xuất khẩu một số lượng khoáng sản tồn kho, như: tinh quặng sắt, tinh quặng titan, một số loại đá hoa trắng dạng khối… Chính phủ cũng đã giao cho Bộ Công Thương phối hợp với UBND các tỉnh thực hiện kiểm tra, xem xét cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản cụ thể và đã có báo cáo Thủ tướng về kết quả thực hiện.

Về việc đề xuất cho phép xuất khẩu tinh quặng sắt limonit mỏ Quý Xa, tỉnh Lào Cai và tinh quặng đồng mỏ Núi Pháo, tỉnh Thái Nguyên, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, trên cơ sở báo cáo của UBND hai tỉnh này, Bộ Công Thương đã phối hợp với các cơ quan liên quan báo cáo các cấp có thẩm quyền để xem xét giải quyết việc xuất khẩu theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

“Việc cho phép doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản tồn kho chỉ là giải quyết tạm thời nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động” – Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nhấn mạnh và cho biết thêm, hiện Bộ Công Thương đang phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng, thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch khoáng sản theo quy định của Luật Quy hoạch. Trong quá trình đó, Bộ Công Thương sẽ cân đối giữ khai thác, chế biến một cách hợp lý, đảm bảo cung – cầu nhằm giảm tồn kho và có chính sách đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu khoáng sản.

Thông tin liên quan đến việc Sabeco bị bán cho Trung Quốc là không đúng sự thật!

Liên quan đến tin đồn hiện Sabeco đã thuộc các chủ đầu tư Trung Quốc, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, Bộ Công Thương khẳng định đây là thông tin không đúng sự thật.

Hiện nay tại Sabeco chỉ có 2 cổ đông chính là Công ty TNHH MTV Vietnam Beverage, thuộc tập đoàn ThaiBev của Thái Lan, đang nắm 53,59% và Bộ Công Thương đại diện vốn Nhà nước nắm 36% cổ phần.

“Một lần nữa chúng tôi khẳng định thông tin Sabeco đã được bán cho các công ty của Trung Quốc là hoàn toàn không đúng sự thật” – Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải tái khẳng định và cho biết thêm, Bộ Công Thương, trong chức năng, nhiệm vụ của mình luôn ủng hộ các doanh nghiệp phát triển sản xuất - kinh doanh và bảo vệ thương hiệu của mình, trong đó có Sabeco, trên cơ sở tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, mang lại lợi ích cho các cổ đông, trong đó có cổ đông Nhà nước.

“Việc Bộ Công Thương đại diện phần vốn Nhà nước nắm 36% nhằm mục đích giữ quyền phủ quyết khi Hội đồng quản trị đưa ra những kế hoạch phát triển sản xuất – kinh doanh cũng như các vấn đề khác của Sabeco không phù hợp” – Thứ trưởng Hải nhấn mạnh.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải lưu ý thêm, hiện nay, Nhà nước Việt Nam đang có vốn tại nhiều tập đoàn, tổng công ty nên những thông tin không đúng sự thật mà thông tin nói trên về Sabeco là một ví dụ điển hình, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới lợi ích của các cổ đông, trong đó có cổ đông là Nhà nước Việt Nam; ảnh hưởng gián tiếp tới nguồn thu của ngân sách Nhà nước từ các khoản thuế doanh nghiệp phải nôp và ảnh hưởng tới tiến độ thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp; ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của chính các doanh nghiệp Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.

Do đó, Bộ Công Thương đề nghị các doanh nghiệp khi bị phát tán thông tin sai sự thật, trước hết cần xác minh, thu thập chứng cứ cụ thể để báo cơ quan chức năng xử lý, ngăn chặn kịp thời.

“Tuỳ vào mức độ của sự việc, các cơ quan chức năng sẽ vào cuộc xác minh, xử lý theo đúng quy định” – Thứ trưởng Hải khẳng định và bổ sung thêm, nếu cần thiết có thể chuyển hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra để tiến hành các bước điều tra, xử lý theo quy định hiện hành.

Trước đó trên mạng xã hội xuất hiện tin đồn Sabeco đã được bán cho các doanh nghiệp Trung Quốc và có cổ đông Trung Quốc nắm giữ cổ phần. Trước thông tin này, trong Đại hội cổ đông thường niên năm 2019 tổ chức hồi đầu năm nay, ông Koh Poh Tiong - Chủ tịch Hội đồng quản trị Sabeco - khẳng định Sabeco không bị bán cho Trung Quốc và không có cổ đông nào là người Trung Quốc.

Mặc dù vậy, thông tin thất thiệt vẫn lan truyền trên mạng xã hội và có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý của các cổ đông của Sabeco.